Đường trung bình động

0
606

Khái niệm

Đường trung bình động (Moving Average) gọi tắt là MA là đường trung bình của giá đóng cửa một cổ phiếu nào đó trong một thời kỳ nhất định. Đường MA làm mượt hoạt động biến động giá hay là cách làm đơn giản hóa hoạt động của giá theo thời gian bằng biểu đồ dạng đường đơn giản.

Đường trung bình di động là một trong những chỉ báo kỹ thuật linh hoạt nhất và được sử dụng rộng rãi. Do được vẽ cũng như lượng hóa và kiểm tra một cách dễ dàng nên đường trung bình di động được coi là nền tảng cơ sở cho nhiều hệ thống tuân theo xu hướng ngày nay.

Các dạng đường trung bình

Đường trung bình làm mượt hoạt động của giá vì nó là trung bình của giá tại một khoảng thời gian nào đó. Có nhiều kiểu đường trung bình khác nhau, và mỗi kiểu có các mức làm mượt riêng. Nói chung, đường trung bình phẳng hơn (khoảng thời gian dài hơn) thì phản ánh sự biến động giá chậm hơn. Đường trung bình nhấp nhô (trong khoảng thời gian ngắn hơn) thì phản ánh sự biến động giá nhanh hơn.

Đường trung bình MA có 3 dạng chính thường được sử dụng:

– Đường trung bình đơn giản SMA (Simple Moving Average)

– Đường trung bình động có trọng số WMA(Weighted Moving Average)

– Đường trung bình động lũy thừa EMA(Exponential Moving Average)

1. Đường trung bình đơn giản SMA (Simple Moving Average)

Đường trung bình đơn giản được tính bằng cách tính tổng các giá đóng cửa trong một khoảng thời gian “n” nào đó và chia cho “n”. Ví dụ bạn muốn vẽ một đường MA 10 ta lấy giá đóng cửa của cổ phiếu 10 phiên gần nhất cộng lại chia cho 10. Cứ liên tiếp như vậy ta sẽ có một đường trung bình đơn giản gọi là MA10. Các đường trung bình MA25, MA50… ta làm tương tự.

Công thức tính SMA như sau

Ví dụ ta có số liệu giá đóng cửa của một cổ phiếu như sau:

Nối tất cả các mức giá trung bình trên trên biểu đồ giá ta sẽ có một đường SMA10

Ví dụ minh họa một đường SMA10 của cổ phiếu CVT

Đường trung bình làm mượt hoạt động của giá vì nó là trung bình của giá tại một khoảng thời gian nào đó. Có nhiều kiểu đường trung bình khác nhau, mỗi kiểu có các mức làm mượt riêng. Nói chung, đường trung bình phẳng hơn (khoảng thời gian dài hơn) thì phản ánh sự biến động giá chậm hơn. Đường trung bình nhấp nhô (trong khoảng thời gian ngắn hơn) thì phản ánh sự biến động giá nhanh hơn.

Đọc thêm  Mô hình cờ và cờ đuôi nheo

Hình minh họa dưới đây biểu diễn 3 đường SMA có độ dài thời gian khác nhau

Đây là một ví dụ về cách các đường trung bình làm phẳng hoạt động giá cả. Trên đồ thị dưới đây, bạn có thể thấy 03 đường SMA khác nhau. Đường SMA cho khoảng thời gian dài hơn là đường biến động chậm hơn so với giá. Đường SMA50 cách xa hơn giá hiện thời so với các đường SMA25 và SMA10. Bởi vì với đường SMA50 bạn tính tổng giá đóng cửa 50 phiên giao dịch và chia cho 50. Việc bạn sử dụng số khoảng thời gian cao hơn làm việc phản ánh sự biến động giá chậm hơn.

2. Trung bình động có trọng số WMA

Bảng dưới đây là công thức và ví dụ tính toán của một đường WMA

Đường trung bình có trọng số là đường trung bình di chuyển nhanh hơn, bám sát sự biến động của giá tốt hơn so với  đường SMA bởi vì các mức giá gần nhất có trọng số lớn nhất.

3. Đường trung bình động lũy thừa EMA (Exponential Moving Average)

Đường trung bình động (EMA) làm giảm độ trễ bằng cách áp dụng trọng số nhiều hơn cho giá gần nhất. Trọng số được áp dụng cho giá gần đây nhất phụ thuộc vào số chu kỳ trong trung bình trượt. Các đường EMA khác với các đường trung bình di chuyển đơn giản trong đó tính toán EMA của một ngày nhất định phụ thuộc vào các phép tính EMA cho tất cả các ngày trước ngày đó. Bạn cần nhiều hơn 10 ngày dữ liệu để tính toán chính xác 10 ngày EMA chính xác.

Có ba bước để tính toán đường trung bình động (EMA).

Đầu tiên, tính toán trung bình di chuyển đơn giản cho giá trị EMA ban đầu. Đường trung bình động (EMA) phải bắt đầu từ đâu đó, do đó, đường trung bình di chuyển đơn giản được sử dụng như EMA của giai đoạn trước trong lần tính toán đầu tiên.

Thứ hai, tính toán hệ số nhân số.

Thứ ba, tính toán trung bình di động theo hàm mũ cho mỗi ngày giữa giá trị EMA ban đầu và ngày hôm nay, bằng cách sử dụng giá, số nhân và giá trị EMA của khoảng thời gian trước đó.

Đọc thêm  Mô hình ba đỉnh và ba đáy

Dưới đây là công thức và ví dụ về cách tính toán một đường EMA10

Trên đây là các công thức tính toán các đường MA. Giờ ta sẽ lấy ví dụ về 3 dạng đường trên trên một biểu đồ giá, để thấy được các đường MA trên phản ứng với sự biến động của giá như thế nào.

Nhìn trên đồ thị ta thấy đường trung bình WMA là đường bám sát theo giá nhất, tiếp đến là đường EMA và cuối cùng là đường SMA. WMA và EMA bám sát giá hơn bởi vì chúng đặt nặng trọng số của các phiên giao dịch gần nhất. SMA phản ứng chậm bởi nó là trung bình cộng của giá trong khoảng thời gian đó.

Độ dài và khung thời gian

Độ dài trung bình động phụ thuộc vào các mục tiêu phân tích. Đường trung bình động ngắn hạn (5-20 giai đoạn) phù hợp nhất cho xu hướng và giao dịch ngắn hạn. Các nhà đầu tư quan tâm đến xu hướng trung hạn sẽ chọn các đường trung bình dài hơn có thể kéo dài 20-50 giai đoạn. Các nhà đầu tư dài hạn sẽ chọn trung bình động 100 hoặc 200 giai đoạn.

Một số đường trung bình động được sử dụng nhiều hơn các đường khác. Đường trung bình động 200 ngày có lẽ là phổ biến nhất. Do độ dài của nó, đây rõ ràng là một đường trung bình dài hạn. Tiếp theo, đường trung bình động 50 ngày khá phổ biến cho xu hướng trung hạn. Nhiều nhà biểu đồ sử dụng các đường trung bình động 50 ngày và 200 ngày cùng nhau. Ngắn hạn, trung bình động 10 ngày khá phổ biến trong quá khứ vì nó dễ tính toán. Người ta chỉ cần thêm các số và di chuyển dấu thập phân.

Nhận dạng xu hướng

Hướng di chuyển trung bình động truyền tải thông tin quan trọng về giá cả. Mức tăng trung bình cho thấy giá thường tăng. Đường trung bình giảm cho thấy giá  trung bình đang giảm. Đường trung bình động tăng dài hạn phản ánh xu hướng tăng dài hạn. Đường trung bình động dài hạn suy giảm phản ánh xu hướng giảm trong dài hạn.

Sử dụng đường MA trong giao dịch cổ phiếu

Sự hội tụ của đường MA

Điểm hội tụ là điểm mà các đường MA chập làm 1 thể hiện sự cân bằng của lượng người bán và lượng người mua, báo hiệu một xu hướng có thể xuất hiện biến động mạnh sau đó. Tại điểm hội tụ mà đường MA ngắn cắt các đường MA dài và hướng xuống, báo hiệu một xu hướng giảm. Nếu đường MA ngắn cắt đường MA dài và hướng lên thì báo hiệu một xu hướng tăng. Tại điểm hội tụ khối lượng của cổ phiếu rất quan trọng cho một xu hướng tiếp theo. Nếu giá tăng mạnh kèm theo khối lượng tăng đột biến có thể xuất hiện một xu hướng tăng giá mới và ngược lại.

Đọc thêm  Vai đầu vai ngược

Sự giao cắt của đường MA

Giao cắt với 1 đường MA: Khi đường giá cắt đường MA từ dưới lên tín hiệu mua được hình thành và bán khi đường giá cắt đường MA và đi xuống.

Giao cắt với 2 đường MA: Tín hiệu mua được hình thành khi đường MA ngắn cắt đường MA dài từ dưới lên và bán khi đường MA ngắn cắt đường MA dài từ trên xuống.

Giao cắt với 3 đường MA: Tín hiệu mua được hình thành khi đường MA ngắn nhất cắt đường MA dài hơn và đường MA dài hơn cắt đường MA dài nhất và hướng lên.

Sử dụng Đường MA như một ngưỡng hỗ trợ hoặc kháng cự

MA là mức giá trung bình mà nhà đầu tư chấp nhận trong một khoảng thời gian nhất định. Do đó MA có thể đóng vai trò như là một mức hỗ trợ hoặc kháng cự của giá. Trong một xu hướng lên MA đóng vai trò như là một ngưỡng hỗ trợ và ngược lại trong một xu hướng xuống đường MA đóng vai trò như là một ngưỡng kháng cự.

Lưu ý:

  • Trong giai đoạn sideway không có xu hướng các đường MA có thể giao cắt lên xuống liên tục tạo ra các tín hiệu mua bán sai. Do đó, trong giai đoạn giá đi ngang hoặc biến động trong một biên độ hẹp, NĐT giao dịch theo tín hiệu của đường MA nên đứng ngoài quan sát thị trường.
  • Đường trung bình động SMA là thành phần cấu tạo của Bolinger Bands, EMA là một thành phần cấu tạo của chỉ báo MACD cho nên chúng ta nên nghiên cứu kỹ đặc điểm của 2 đường trung bình này.

Chungkhoanviet.net

Bình luận

avatar